Wednesday, September 30, 2015

Khi trẻ bị bỏng, nhiều cha mẹ thường xả vết thương của trẻ dưới nước lạnh rồi thoa kem đánh răng lên khắp chỗ bị bỏng mà không biết rằng thói quen này có thế khiến bé thêm nỏng kiềm, gây nguy hiểm.

Nhiều cha mẹ khi bị bỏng bôi kem đánh răng lên vết thương. Họ cho rằng kem đánh răng sẽ giúp giảm nhiệt bởi khi thoa lên tay hay đánh răng, có hiện tượng mát lạnh, sẽ làm dịu vết thương.

Tuy nhiên, các bác sĩ chuyên ngành bỏng khẳng định kem đánh răng hay vôi bột đều là các hóa chất chứa kiềm, khi gặp môi trường thuận lợi như các vết thương bỏng, sẽ xâm nhập và gây nên biến chứng khác.

“Khi con bị bỏng, cha mẹ tuyệt đối không dùng kem đánh răng hay vôi bột hoặc nước vôi trong xoa lên vết thương. Ngoài việc bỏng nhiệt, các bé còn thêm bỏng kiềm, gây nguy hiểm”, một bác sĩ khuyến cáo.


Các bước sơ cấp cứu

Bước 1: Nhanh chóng đưa bé ra khỏi nơi gây bỏng, sau đó trấn an tinh thần để em bé bình tĩnh lại. Không cho bé lấy tay hay bất cứ vật gì chạm vào vết bỏng vì chúng có thể khiến vết bỏng lan rộng ra hoặc bị nhiễm trùng.

Bước 2: Dùng nước lạnh để làm dịu vết bỏng của bé bằng cách cho bé ngâm vùng bỏng vào nước lạnh sạch. Tuyệt đối không được dùng đá để chườm lạnh, thoa nước mắm, kem đánh răng... lên vết bỏng vì sẽ khiến nhiễm trùng. Sau đó đánh giá mức độ nặng nhẹ của vết bỏng để quyết định cho bé ở nhà hay đi viện.

Bước 3: Cởi hoặc cắt bỏ quần áo vùng da bị bỏng để vết bỏng lộ ra ngoài. Sau đó tiếp tục dùng nước mát cho bé ngâm hoặc dội nước lên vùng bị bỏng để làm dịu da. Cần lưu ý, nếu quần áo dính chặt vào vết bỏng cha mẹ tuyệt đối không được cố gắng gỡ bỏ mà nên tiếp tục ngâm vào nước lạnh để quần áo tự bung ra.

Bước 4: Tiếp tục làm mát vết thương trong vòng 20 phút, lưu ý cứ 3 phút thay khăn mới một lần. Tùy theo mức độ nặng nhẹ của vết bỏng mà cha mẹ quyết định cho bé điều trị tại nhà hay đi bệnh viện.

Cách phân biệt mức độ nặng nhẹ của vết bỏng

Bỏng nhẹ - bỏng độ 1 có các triệu chứng như:

+ Phần da bị bỏng đỏ lên, không có bọc nước.

+ Lớp da ngoài bị tổn thương nhẹ.

+ Vết bỏng nhanh chóng phục hồi và không có sẹo.

Bỏng độ 2

+ Da của bé bị tổn thương sâu hơn, kèm bọc nước gây đau đớn và khó chịu cho trẻ. Lưu ý không được dùng kim để làm vỡ các bọc nước vì sẽ làm vết bỏng loét sâu và nặng hơn.

+ Phần chân bì da chưa bị tổn thương hoàn toàn nên có thể phục hồi và tái tạo lại da non được.

+ Ít để lại sẹo nếu điều trị và chăm sóc đúng cách.

Bỏng độ 3 - bỏng nặng

+ Vùng da bị tổn thương bị hủy hoại nặng, không có bọc nước.

+ Vùng da bị tổn thương có màu nâu trắng hoặc cháy đen sém. Vết bỏng ăn sâu tận cơ xương.

+ Để lại sẹo sau khi điều trị.

Khi bé bị bỏng toàn thân, sau lưng, ngực, bụng hoặc toàn bộ chân tay. Vết bỏng sâu, diện tích rộng và nguy hiểm gây đau đớn nên nhanh chóng đưa trẻ đi bệnh viện.

Posted on 1:07 AM by Cuong Nguyen

No comments

Wednesday, September 9, 2015

Để tăng chiều cao, mẹ nên cho trẻ ăn các thực phẩm giàu canxi, vitamin B, sắt, kẽm,...vì chúng góp phần hỗ trợ và có lợi cho quá trình phát triển này.

Các giai đoạn tăng chiều cao ở trẻ
Có 3 giai đoạn cơ thể tăng trưởng rất nhanh về chiều cao:

- Giai đoạn trong bào thai: trong 9 tháng mang thai, nếu người mẹ được ăn uống tốt tăng từ 10 - 20kg thì con sẽ đạt được chiều cao 50cm lúc chào đời và nặng từ 3kg trở lên.

- Giai đoạn sơ sinh đến 3 tuổi: 12 tháng đầu trẻ tăng 25cm; 2 năm tiếp theo mỗi năm trẻ cao thêm 10cm nếu được nuôi dưỡng tốt.

- Giai đoạn dậy thì: bình thường con gái từ 10 - 16 tuổi và con trai từ 12 - 18 tuổi. Trong thời gian dậy thì sẽ có 1 - 2 năm chiều cao tăng vọt từ 8 - 12cm mỗi năm nếu được nuôi dưỡng tốt. Nhưng trong thực tế, chúng ta không thể biết chính xác năm đó là năm nào nên vẫn phải đảm bảo dinh dưỡng tốt cho trẻ suốt trong thời gian dậy thì để trẻ phát triển.

Sau thời kỳ dậy thì, cơ thể trẻ cũng tăng chiều cao nhưng với tốc độ rất chậm, tổng cộng số tăng chiều cao của các năm sau không bằng một năm chiều cao tăng vọt của thời kỳ dậy thì.

Người ta thường ước tính chiều cao của trẻ khi trưởng thành sẽ gấp đôi chiều cao lúc 2 tuổi (chẳng hạn lúc 2 tuổi trẻ cao 82cm, thì khi lớn sẽ cao 1,64m). Hoặc chiều cao lúc trưởng thành bằng chiều cao lúc 10 tuổi nhân với 1,25 (ví dụ khi 10 tuổi trẻ cao 1,4m thì lúc trưởng thành trẻ sẽ cao 1,75m).

Qua đó chúng ta thấy sự chăm sóc nuôi dưỡng trong các giai đoạn mang thai, 3 năm đầu và giai đoạn dậy thì là rất quan trọng để phát triển chiều cao của trẻ.



Cho trẻ ăn gì để tăng chiều cao?

1. Sữa giàu canxi

Sữa là thực phẩm dinh dưỡng có hàm lượng canxi cao rất tốt cho sự phát triển chiều cao của trẻ. Ngoài ra, trong sữa còn chứa nhiều chất như magie, phốt pho,… Các chất này rất tốt cho sự phát triển của xương, tăng chiều cao cho trẻ. Đồng thời, sữa rất tốt cho tiêu hóa của bé, sẽ giúp bé hấp thụ thức ăn tốt hơn. Chính vì vậy, các mẹ nên cho trẻ uống sữa mỗi ngày để tăng chiều cao cho bé.

2. Lương thực khô

Lương thực khô là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể như: gạo, ngô, lúa mì,… Các loại lương thực này chưa rất nhiều vitamin B và sắt có lợi trong sự phát triển chiều cao của bé.

3. Sữa chua

Vitamin D và protein là những chất cấu tạo nên xương khớp, giúp tăng chiều cao một cách nhanh chóng. Mà trong sữa chua chứa khá nhiều các chất này. Chính vì vậy, cho bé ăn nhiều sữa chua để giúp cải thiện chiều cao của bé.


4. Thịt gà

Thịt gà là món được hầu hết các bé đều thích. Trong thịt gà  chứa rất nhiều protein giúp tăng trưởng, phát triển chiều cao cho bé. Và với thịt gà các mẹ có thể chế biến được rất nhiều món ngon vừa bổ dưỡng, vừa thay đổi khẩu vị cho bé, bé sẽ ăn ngon miệng hơn.

5. Các loại trứng

Trứng chứa rất nhiều protein, rất tốt cho việc cải thiện chiều cao của trẻ nhỏ. Các mẹ nên cho các bé ăn trứng gà, trứng vịt, trứng cút… dưới các hình thức khác nhau để giúp bé ăn ngon miệng hơn.

6. Đậu nành

Đậu nành là một trong những thực phẩm có lượng protein có nguồn gốc từ thực vật tương đối lớn. Nó giúp cải thiện sự phát triển của hệ xương và các mô, giúp bé phát triển chiều cao. Từ đậu nành các mẹ có thể chế biến được rất nhiều các món ngon mà các bé thích, để bé có thể hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng từ loại thực phẩm này tốt hơn.

7. Hải sản

Các loại hải sản cũng chứa một lượng canxi không nhỏ. Ngoài ra nó cũng chứa các chất khác hỗ trợ hấp thụ canxi như: vitamin D, K, B1… Một số loại hải sản như: tôm, cua, cá hồi, sò, hàu…rất tốt để bổ sung canxi trong quá trình phát triển của trẻ.

Posted on 2:11 AM by Cuong Nguyen

1 comment

Monday, September 7, 2015

Một nghiên cứu mới đây cho thấy chất nitrat trong cà rốt có thể khiến trẻ tử vong nếu không điều trị kịp thời. Ngoài ra, ăn quá nhiều cà rốt khiến trẻ bị thiếu máu và mất cân bằng dinh dưỡng.

Lợi ích của cà rốt đối với sức khỏe con người

Cà rốt là loại thực phẩm quen thuộc và luôn được "mặc định" là rất bổ dưỡng. Điều đó không hề sai vì quả thực cà rốt xứng đáng là "thực phẩm vàng" vì nó có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Những hoạt chất quý như falcarinol, beta carotene trong cà rốt có thể tự gắn nó với các gốc tự do trong cơ thể và bảo vệ chúng khỏi sự tăng trưởng tế bào ác tính, giúp bạn ngăn ngừa các nguy cơ ung thư phổi, ung thư da, ung thư ruột kết và ung thư vú...

Cà rốt cũng giúp giải độc gan mạnh mẽ nhờ cà rốt chứa một lượng lớn chất kết dính với thủy ngân, do đó có thể giải độc thủy ngân bằng cách làm giảm nồng độ và loại trừ các ion thủy ngân trong máu.

Ngoài ra, cà rốt còn có thể làm giảm nguy cơ hình thành sỏi thận và đào thải nhiều loại chất độc khác ra khỏi cơ thể.

Cà rốt là loại thực phẩm chứa beta carotene - một chất có thể biến đổi thành vitamin A trong quá trình tiêu hóa - nhiều nhất trong số các loại thực phẩm. Vì thế nó được biết đến như là thực phẩm tốt cho mắt đặc trưng nhất.


Ăn nhiều cà rốt có thể khiến trẻ tử vong

Tuy nhiên, rất ít người biết đến những tác hại nghiêm trọng khi lạm dụng loại thực phẩm này, đặc biệt đối với trẻ nhỏ.

Nhiều bà mẹ thường có thói quen cho con ăn nhiều cà rốt càng tốt như cho vào thức ăn dặm, sinh tố cà rốt, cà rốt luộc…nhưng không biết rằng việc ăn nhiều cà rốt tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với trẻ nhỏ.

Trên thực tế, trong cà rốt chứa rất nhiều nitrat, khi ăn nhiều và lâu ngày sẽ gây ra chất methemoglobin ở trẻ nhỏ, làm giảm khả năng bù trừ của hệ thống men khử, làm tăng methemoglobine máu, khiến cơ thể tím tái, khó thở, có thể tử vong nếu không điều trị kịp thời". Caroten có trong cà rốt là chất chỉ tan trong dầu mỡ nên việc ninh, nấu chín cà rốt với dầu mỡ hay thịt là cách tốt nhất để sử dụng triệt để lượng vitamin dồi dào có trong loại củ này.

Mặt khác, trẻ nhỏ uống quá nhiều nước ép từ cà rốt hoặc cà chua có khả năng bị tăng lipit máu, khuôn mặt và da bàn ngả vàng, chán ăn, tinh thần bất ổn, hay bồn chồn, thậm chí khó ngủ, hay sợ hãi ban đêm, quấy khóc liên miên.

Thêm nữa, trong cà rốt có chứa rất nhiều chất xơ, 80% trong số đó là chất xơ không hòa tan rất tốt cho hệ tiêu hóa. Tuy nhiên, nếu ăn quá nhiều cà rốt và không uống đủ nước thì một nghịch lý sẽ xảy ra là lượng chất xơ này sẽ gây táo bón cho chính người ăn.

Vì vậy, mẹ không nên cho quá nhiều cà rốt vào khẩu phần ăn của bé để tránh nguy hiểm đến sức khỏe của trẻ.

Posted on 1:30 AM by Cuong Nguyen

No comments